Logistics ngày càng phát triển kể từ khi Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường này từ ngày 1.1.2009 theo cam kết với Tổ chức Thương mại Thế giới. Tuy nhiên, nguồn lợi to lớn từ ngành này vẫn tiếp tục chảy vào túi các doanh nghiệp nước ngoài, do khối nội vẫn chưa tận dụng triệt để lợi thế sân nhà. NCĐT đã trao đổi với ông Vũ Xuân Kiên, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Tây Bắc về vấn đề này nhân Hội nghị Chuỗi cung ứng 2010 vừa được tổ chức tại TP.HCM.Ông đánh giá như thế nào về tiềm năng của ngành logistics trong cơ cấu kinh tế Việt Nam?
Hiện nay, chi phí cho dịch vụ logistics của Việt Nam chiếm đến hơn 20% cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội, tương đương 50% kim ngạch xuất khẩu. Điều này cho thấy, dịch vụ logistics có ý nghĩa quan trọng và việc giảm chi phí này sẽ góp phần tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp trong nước. Tốc độ tăng trưởng của ngành những năm gần đây đạt trung bình 20-25%/năm. Trong đó, bán lẻ là ngành đóng góp không nhỏ vào các hoạt động dịch vụ logistics.
Theo Ngân hàng Thế giới, năm 2009, Việt Nam xếp thứ 53 trên thế giới và thứ 5 trong Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á về hiệu quả hoạt động dịch vụ logistics. Tuy nhiên, ở Việt Nam, ngành này vẫn chưa được các doanh nghiệp trong nước khai thác một cách triệt để.
Hạ tầng và nguồn nhân lực logistics của Việt Nam hiện nay ra sao?
Hạ tầng logistics còn yếu kém và chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông vận tải. Việt Nam lại thiếu các cảng nước sâu, cảng trung chuyển, công nghệ bốc xếp tại nhiều cảng vẫn còn thô sơ nên năng suất chưa cao. Ngoài ra, ngành logistics vẫn chưa tạo được hành lang vận tải đa phương thức để đáp ứng nhu cầu trung chuyển hàng hóa chất lượng cao của các nhà xuất nhập khẩu.
Nhân lực cho ngành logistics vẫn còn thiếu và chưa được đào tạo một cách bài bản. Một số trường chỉ đào tạo kiến thức cơ bản về nghiệp vụ ngoại thương và vận tải. Tôi hy vọng, trong thời gian tới vấn đề nhân lực có chất lượng, đào tạo chính quy sẽ được cải thiện. Một tín hiệu vui là Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã mở khóa đầu tiên về đào tạo logistics bậc đại học từ năm 2010.
Ông có thể cho biết về tình hình cạnh tranh giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài kể từ khi Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường này vào đầu năm 2009?
Hiện nay, số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam vào khoảng 800-900. Trong đó, Hiệp hội Giao nhận Việt Nam (VIFFAS) có 139 hội viên chính thức và liên kết với thời gian hoạt động trung bình của các doanh nghiệp là 5 năm, vốn đăng ký trung bình khoảng 1,5 tỉ đồng/doanh nghiệp.
Hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam còn manh mún, thiếu chuyên nghiệp, hạn chế về vốn, nên chỉ dừng ở mức cung cấp dịch vụ cho một số công đoạn của chuỗi cung ứng. Trong khi đó, các công ty đa quốc gia đang ngày càng đẩy mạnh hoạt động tại Việt Nam. Họ có kinh nghiệm, công nghệ hiện đại và mạng lưới hoạt động trên toàn cầu nên có lợi thế lớn hơn.
Nghĩa là khối ngoại đang thắng thế trong cuộc chiến giành thị phần logistics trong nước?
Đến năm 2014, sau khi Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường logistics, nếu doanh nghiệp trong nước vẫn không khắc phục được những hạn chế trên trong khi khối ngoại vẫn đầu tư mạnh hơn để giành thị phần thì các doanh nghiệp trong nước sẽ tiếp tục thua trên sân nhà.
Theo Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất của logistics là vận tải biển và doanh nghiệp trong nước mới chỉ đáp ứng được 18% nhu cầu chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu; phần còn lại đang nằm trong tay khối ngoại.
Đây là thua thiệt lớn cho các doanh nghiệp trong nước khi có đến 90% hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển. Năm 2009, tổng lượng hàng hóa vận chuyển qua hệ thống cảng biển Việt Nam đạt 246 triệu tấn và tốc độ tăng trưởng lên đến 255% so với năm 2008. Đây là một thị trường tiềm năng.
Giải pháp cho vấn đề này là gì?
Doanh nghiệp trong nước cần giải quyết tốt vấn đề vốn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng quy mô hoạt động, cung cấp các giải pháp dịch vụ chuyên sâu và có giá trị cao như dịch vụ logistics trọn gói 3PL. Ngoài ra, cần tích cực tham gia các hiệp hội của ngành nhằm nâng cao tính liên kết, tăng cường vị thế và năng lực cạnh tranh.
Về phía Nhà nước, cần tiếp tục đầu tư vào hạ tầng giao thông vận tải, hệ thống bến cảng, kho bãi hiện đại một cách đồng bộ, đi đôi với việc áp dụng công nghệ bốc dỡ bằng hệ thống thông tin tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.
(Nhịp cầu đầu tư)
0 comments:
Post a Comment